VỤ ÁN TRANH CHẤP THỪA KẾ TÀI SẢN VÀ YÊU CẦU HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Sau đây Equity Law Firm xin được tư vấn về nội dung sau: VỤ ÁN TRANH CHẤP THỪA KẾ TÀI SẢN VÀ YÊU CẦU HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
(Do tính chất bảo mật thông tin vụ án nên toàn bộ Thông tin cá nhân, Tên địa phương, Tên cơ quan hành chính đã được mã hóa)

- TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
Năm 2023, bà Ngô Thị Th đã liên hệ với Equity Law Firm đề nghị được hỗ trợ pháp lý cho trường hợp của gia đình bà.
Bố bà Ngô Thị Th là cụ Ngô Văn T (sinh năm 1930, mất năm 1999). Sinh thời, cụ Ngô Văn T có 02 người vợ. Người vợ đầu tiên là cụ Nguyễn Thị N (mất năm 1967), kết hôn khoảng năm 1957, có 01 người con chung là bà Ngô Thị Th (sinh năm 1965). Năm 1970, cụ T kết hôn với người vợ thứ hai là cụ Nguyễn Thị C (sinh năm 1938, mất năm 2022) và có 02 người con chung là bà Ngô Thị X (sinh năm 1972) và bà Ngô Thị S (sinh năm 1976). Ngoài 03 người con đẻ, cụ Th còn có 01 người con nuôi là bà Ngô Thị Ph.
Sinh thời, cụ Ngô Văn T và cụ Nguyễn Thị N có tài sản chung là một thửa đất khoảng 996 m2 địa chỉ tại thôn C, xã L.T, huyện A.D, thành phố H.P (“Thửa đất 996 m2”). Thửa đất có nguồn gốc do tổ tiên để lại.
Vào năm 1995, cụ T và bà C quyết định bán một nửa thửa đất cho ông Nguyễn Văn Th là người cùng thôn (Thửa đất 33B). Đồng thời, cụ T đã giao cho bà Ngô Thị Th toàn bộ phần đất còn lại (Thửa đất số 33A), có lập thành bản giao thừa kế, có các anh chị em của cụ T ký tên (gia đình không còn lưu giữ).
Năm 1999, cụ Ngô Văn T mất, cụ Nguyễn Thị C vẫn ở trên đất cho đến khi mất (năm 2022).
Năm 2000, bà Ngô Thị Th đã thực hiện các thủ tục kê khai, đăng ký cấp sổ và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Toàn bộ quá trình cấp Giấy chứng nhận, cụ Nguyễn Thị C biết và cũng không có ý kiến phản đối gì.
Từ khi cụ C mất đến nay, bà Ngô Thị Th là người trực tiếp quản lý, sử dụng đối với Thửa đất số 33A. Trên thửa đất hiện có 02 ngôi nhà, tường rào, mái tôn, sân nền, chuồng lợn… đều do gia đình bà Ngô Thị Th xây dựng và quản lý.
Năm 2023, bà Ngô Thị X và bà Ngô Thị S đã khởi kiện bà Ngô Thị Th yêu cầu chia thừa kế và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 33A vì cho rằng đất là do cụ Ngô Văn T cùng cụ Nguyễn Thị C mua và là di sản của hai cụ chưa chia thừa kế.
- NHẬN ĐỊNH, CĂN CỨ PHÁP LÝ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
Sau khi tiếp nhận vụ việc, Equity Law Firm đại diện khách hàng liên hệ với các cá nhân, cơ quan, tổ chức để thu thập toàn bộ các hồ sơ, tài liệu, chứng cứ và tham gia quá trình tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.
Dựa theo hồ sơ vụ việc và các chứng cứ thu thập được, Equity Law Firm đã nhận thấy có đầy đủ căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng, đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu của phía nguyên đơn, cụ thể:
Thứ nhất, nguồn gốc của Thửa đất số 33A là do tổ tiên để lại cho cụ Ngô Văn T và cụ Nguyễn Thị N từ những năm 1950. Equity Law Firm đã đại diện và cùng với khách hàng thực hiện các thủ tục cần thiết để xin xác nhận của những người làm chứng là các anh chị em ruột, họ hàng của cụ T và những người dân sinh sống lâu năm tại địa phương. Đồng thời, Equity Law Firm đã đại diện khách hàng thu thập hồ sơ địa chính, hồ sơ đất đai, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được lưu giữ tại chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý đất đai. Căn cứ vào hồ sơ, tài liệu thu thập được, có đầy đủ cơ sở khẳng định thửa đất có nguồn gốc do tổ tiên của cụ Ngô Văn T để lại. Thực tế, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Ngô Thị X và bà Ngô Thị S không đưa ra được các chứng cứ trực tiếp thể hiện nguồn gốc thửa đất do cụ Ngô Văn T và người vợ thứ hai là cụ Nguyễn Thị C mua. Do đó, thửa đất được xác định là tài sản chung của cụ Ngô Văn T và người vợ đầu tiên là cụ Nguyễn Thị N.
Thứ hai, toàn bộ Thửa đất số 33A là di sản do cụ Nguyễn Thị N để lại, đã hết thời hiệu chia thừa kế nên được giao cho người thừa kế đang trực tiếp quản lý di sản là bà Ngô Thị Th quản lý. Thửa đất số 33A ban đầu thuộc Thửa đất 996 m2 là tài sản chung của cụ T và cụ N. Tuy nhiên, vào năm 1995, cụ T và người vợ thứ hai là cụ C quyết định bán toàn bộ tài sản của mình trong khối tài sản chung là một nửa của Thửa đất 996 m2 (nay Thửa đất số 33B) cho ông Nguyễn Văn Th là người cùng thôn. Do đó, một nửa còn lại của Thửa đất 996 m2, nay là toàn bộ Thửa đất số 33A được xác định là di sản do cụ Nguyễn Thị N để lại. Theo Khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, khi hết thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế (30 năm kể từ ngày người để lại di sản chết), di sản thuộc về người thừa kế đang trực tiếp quản lý di sản.
“Điều 623. Thời hiệu thừa kế
1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.”
Equity Law Firm đã tư vấn để khách hàng yêu cầu Tòa án áp dụng quy định về thời hiệu theo quy định, công nhận toàn bộ thửa đất số 33A thuộc quyền sở hữu/sử dụng hợp pháp của bà Ngô Thị Th.
Thứ ba, khi còn sống, cụ Ngô Văn T cũng đã lập văn bản tặng cho bà Ngô Thị Th Thửa đất số 33A (Do thời gian dài, gia đình không lưu giữ được tài liệu nêu trên). Equity Law Firm đã bằng các biện pháp nghiệp vụ, tiến hành thu thập được bản photo của Bản giao thừa kế do cụ Ngô Văn T lập. Đồng thời, thực hiện việc xin xác nhận của những người làm chứng đã tham gia, ký tên vào văn bản do cụ T lập để chứng minh tài liệu nêu trên là đúng sự thật khách quan. Đây là chứng cứ khách quan để chứng minh ý chí của cụ T là chuyển giao quyền sử dụng đất cho bà Ngô Thị Th quản lý, sử dụng. Do vậy, Thửa đất số 33A chắc chắn không phải di sản thừa kế của cụ T và cụ C để lại, không có căn cứ để chấp thuận yêu cầu của bà Ngô Thị X và bà Ngô Thị S.
Thứ tư, quá trình quản lý, sử dụng đất, chính cụ C cũng nhiều lần thừa nhận quyền sử dụng của bà Ngô Thị Th đối với thửa đất, thể hiện qua việc có ký tên vào biên bản bàn giao đất ở do cụ T lập, ký và xác nhận thông tin mua bán đất có thể hiện nội dung thửa đất liền kề là của bà Th, không có ý kiến phản đối khi bà Th xây dựng nhà cửa và các tài sản trên đất cũng như không phản đối việc chính quyền địa phương đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) cho bà Ngô Thị Th.
Thứ năm, kể từ khi cụ T mất (năm 1999), bà Ngô Thị Th là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất. Suốt quá trình đó, bà Th là người thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước. Đồng thời, gia đình bà Th là những người có công sức trông nom, tôn tạo đất, xây dựng và sở hữu 02 ngôi nhà cũng như các công trình kiên cố khác trên đất.
Thứ sáu, năm 2000, bà Ngô Thị Th đã thực hiện các thủ tục kê khai, đăng ký cấp sổ và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 33A. Theo Khoản 21 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 quy định:
“21. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.”
Đồng thời, tại điểm b2 tiểu mục 2.3 Nghị quyết 02/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định:
“b.2) Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tại thời điểm giao kết vi phạm các điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nhưng sau đó đã được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 mà có phát sinh tranh chấp và từ ngày 01/7/2004 mới có yêu cầu Toà án giải quyết, thì không coi là hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện này.”
Như vậy, người được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình. Giao dịch trước ngày 01/7/2004 kể cả trường hợp vi phạm về hình thức và điều kiện phải có giấy chứng nhận nhưng sau khi chuyển nhượng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì giao dịch vẫn có hiệu lực.
Kết luận: Những yêu cầu phân chia di sản thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn là không có căn cứ. Thửa đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Ngô Thị Th và cần được pháp luật bảo vệ để đảm bảo tính ổn định của các quan hệ dân sự.
Trên đây là tư vấn của EQUITY LAW FIRM về “VỤ ÁN TRANH CHẤP THỪA KẾ TÀI SẢN VÀ YÊU CẦU HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT”
LIÊN HỆ LUẬT SƯ TƯ VẤN TRỰC TIẾP: 078 569 0000 – 0969 099 300
Phụ trách nội dung: ThS. LS. Phan Công Tiến – Luật sư điều hành Equity Law Firm
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bình Vượng Tower, số 200 đường Quang Trung, phường Hà Đông, thành phố Hà Nội.
Email: tienpc@equitylaw.vn – luatsucongtien@gmail.com
Fanpage: https://www.facebook.com/equitylaw.vn
Zalo liên hệ Luật sư: zalo.me/3357157996900972250
Quét mã QR Zalo Luật sư:

Bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan của Equity Law Firm:
– VỤ ÁN: BỒI THƯỜNG THU HỒI ĐẤT
– GIÁ TRỊ PHÁP LÝ VÀ HIỆU LỰC CỦA BẢN DI CHÚC
– VỤ ÁN: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
– BỒI THƯỜNG KHẮC PHỤC HẬU QUẢ DO XÂY DỰNG TRÁI PHÉP, SỬ DỤNG ĐẤT SAI MỤC ĐÍCH
