VỤ ÁN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ

Sau đây Equity Law Firm xin được tư vấn về nội dung sau: VỤ ÁN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ

(Do tính chất bảo mật thông tin vụ án nên toàn bộ thông tin cá nhân, tên địa phương, tên cơ quan hành chính đã được mã hóa)

  1. TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN

Sinh thời, cụ Giang Văn H (sinh năm 1910 – mất năm 2000) và cụ Trần Thị T (sinh năm 1915 – mất năm 1997) sinh được 06 người con chung, trong đó có bà Giang Thị X (sinh năm: 1959).

Quá trình sinh sống, cụ H cụ T có tài sản chung là Thửa đất số 645, tờ bản đồ số 17, diện tích 433,6m2 (Theo bản đồ 299 được ghi nhận là Thửa đất số 200, tờ bản đồ số 01, diện tích 405m2), tại địa chỉ thôn Nghĩa Chỉ, xã Thụy Hà (đến nay là tổ dân phố Nghĩa Chỉ, thị trấn Diêm Điền), huyện Thái Hà, tỉnh Bình Gia (“Thửa Đất”).

Thửa Đất này được cụ H cụ T quản lý, sử dụng từ trước những năm 1930. Bà X cùng các anh chị em trong gia đình đều được sinh ra, lớn lên trên Thửa Đất này.

Đến khoảng năm 1970, cụ H cụ T có xây dựng mới 04 (bốn) gian nhà cấp 4 bằng vữa, rơm, mái ngói để thuận tiện cho việc ăn ở, sinh hoạt cho cả gia đình và cụ H cụ T sinh sống liên tục, ổn định tại Thửa Đất cho đến lúc qua đời.

Trước khi chết, cụ H cụ T không thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất, cho tặng, hay để lại di chúc Thửa Đất cho bất kỳ ai, cũng không để lại nghĩa vụ tài chính nào cho các đồng thừa kế. Như vậy, Thửa Đất và ngôi nhà trên đất phải được xác định là di sản thừa kế do cụ H cụ T để lại chưa phân chia.

Tuy nhiên, không biết bằng cách nào, Thửa Đất và tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng, sở hữu của cụ H cụ T đã được đăng ký, kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên vợ chồng con trai con dâu là ông Giang Văn Ch và bà Nguyễn Thị G. Cụ thể, ông Ch và bà G đã được UBND huyện Thái Hà cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 366626, vào sổ cấp GCN số: CH03601 ngày 28/12/2016 (thể hiện trên Giấy chứng nhận là Thửa đất số 645, tờ bản đồ số 17, diện tích 433,6m2, địa chỉ tại: Thôn Nghĩa Chỉ, xã Thụy Hà, huyện Thái Hà, tỉnh Bình Gia mang tên ông Giang Văn Ch và bà Nguyễn Thị G).

Việc Thửa Đất là di sản thừa kế chưa được các đồng thừa kế phân chia nhưng UBND huyện Thái Hà lại cấp Giấy chứng nhận đứng tên ông Ch bà G đối với toàn bộ Thửa Đất là hoàn toàn trái quy định của pháp luật, không đúng về đối tượng, nguồn gốc đất, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tôi cũng như các đồng thừa kế khác.

  1. NHẬN ĐỊNH, CĂN CỨ PHÁP LÝ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

Sau khi tiếp nhận thông tin và tài liệu từ khách hàng, Equity Law Firm đã nghiên cứu vụ việc và hướng dẫn khách hàng gửi Đơn khởi kiện đến TAND tỉnh Bình Gia yêu cầu:

“- Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 366626, số vào sổ cấp GCN: CH03601 đứng tên ông Giang Văn Ch và bà Nguyễn Thị G do UBND huyện Thái Hà cấp ngày 28/12/2016; Phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng Thửa đất số 645, tờ bản đồ số 17, diện tích 433,6m2, có địa chỉ tại thôn Nghĩa Chỉ, xã Thụy Hà (nay là tổ dân phố Nghĩa Chỉ, thị trấn Diêm Điền) huyện Thái Hà, tỉnh Bình Gia và tài sản trên đất để tôi được nhận phần di sản thừa kế theo quy định pháp luật. Tôi đề nghị được nhận phần di sản thừa kế bằng hiện vật.

Dựa theo hồ sơ vụ việc, Equity Law Firm nhận thấy có căn cứ để phân chia di sản thừa kế, cụ thể như sau:  

Nguồn gốc Thửa đất 645 của cụ H cụ T do các bên đương sự thừa nhận, được chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư xác nhận theo quy định pháp luật.

+ Tại Đơn khởi kiện và các Văn bản mà bà X đã gửi cho Quý Tòa, bà X đều khẳng định Thửa đất số 645 là di sản do bố mẹ bà X để lại chưa được phân chia.

+  Bà G – bị đơn trong Vụ Án đã thừa nhận nguồn gốc Thửa đất 645 là tài sản do cụ H cụ T để lại tại Biên bản lấy lời khai của TAND thỉnh Bình Gia ngày 21/02/2025 như sau:

“Hỏi: Bà trình bày về nguồn gốc diện tích đất đối với thửa đất số 645, tờ bản đồ số 17, diện tích 433,6m2?

Đáp: Nguồn gốc toàn bộ diện tích đất của bố mẹ chồng tôi là cụ Giang Văn H và cụ Trần Thị T…”.

+ Ngoài ra, tại các Bản trình bày ý kiến/Biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác cũng đều trình bày và thừa nhận nguồn gốc của Thửa đất số 645 là của cụ H cụ T để lại và chưa được phân chia.

Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh:

Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh“.

+ Nguồn gốc Thửa đất 645 là của cụ H cụ T để lại được chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư xác nhận theo quy định pháp luật như thông qua Biên bản hội nghị cộng đồng dân cư và văn bản xác nhận có dấu đỏ của UBND thị trấn Diêm Điền.

– Ngôi nhà trên đất cũng là di sản do cụ H cụ T để lại. Việc cụ H cụ T xây dựng nhà cửa mà nay vẫn còn trên đất đã được chính quyền địa phương xác minh, các đương sự trong Vụ Án xác nhận và có bà con hàng xóm làm chứng thông qua Biên bản xác minh; Biên bản hội nghị cộng đồng dân cư.

Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Giang Văn Ch – bà Nguyễn Thị G là trái quy định pháp luật; cấp sai nguồn gốc, đối tượng sử dụng đất.

–  Có đủ căn cứ và điều kiện để bà X được nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện vật là nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại vị trí nằm ở phía đông của Thửa đất số 645, giáp hộ bà Đào Thị O, có mặt tiền giáp với mặt phố Nguyễn Khuyến. Căn nhà sau khi phân chia quyền sử dụng đất vẫn đảm bảo công năng sử dụng, không làm thay đổi kết cấu của căn nhà. Trên Thửa Đất số 645 hiện nay đang tồn tại 02 căn nhà được phân chia thành các phần khác nhau và nếu phân chia hai ngôi nhà trên thì công năng sử dụng vẫn không bị thay đổi, không ai phải di chuyển hay phá dỡ công trình vì vẫn đảm bảo diện tích để sử dụng.

Đồng thời, trong trường hợp phân chia di sản thừa kế thì kỷ phần bà X được nhận khoảng hơn 100m2 chưa kể những kỷ phần mà những người thừa kế khác như bà T, bà Đ, ông T, bà H tặng cho lại cho. Do đó, kỷ phần mà bà X được nhận vượt quá nhiều lần diện tích của căn nhà (một) tầng xây G chỉ rộng 46.3m2.

Ngoài ra, Thửa đất 645 có hai mặt tiền, mặt tiền phía bắc thửa đất giáp phố Nguyễn Khuyến có chiều dài là 10,84m, mặt tiền phía nam giáp ngõ đi. Tuy nhiên ngõ đi phía nam thửa đất hiện do một gia đình khác trong khu dân cư đã chiếm dụng và làm cổng sắt có khóa, ngăn kín lối đi, thực tế không còn ai sử dụng, đi lại được. Vì vậy, nếu được phân chia phần diện tích đất có mặt tiền đi ra lối đi này, bà X thực tế không thể sử dụng được do phát sinh tranh chấp ngõ đi chung. Khi đó, quyền và lợi ích hợp pháp của bà X không được đảm bảo, có thể tiếp tục phát sinh tranh chấp kéo dài. Do đó, để đảm bảo quyền được có nơi ở chính đáng của bà X sau khi phân chia di sản, phần diện tích đất được chia cho bà X cần thiết phải có mặt tiền tiếp giáp hoặc có lối đi ra mặt phố Nguyễn Khuyến.

Thửa đất 645 đủ điều kiện để tách thửa theo quy định pháp luật. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 9 Quyết định số 33/2024/QĐ-UBND ngày 30/09/2024 của UBND tỉnh Bình Gia:

“Điều 9. Diện tích tối thiểu tách thửa, hợp thửa đất (Thực hiện khoản 4 Điều 220 Luật Đất đai)

1. Diện tích tối thiểu tách thửa đất

2. a) Diện tích, bề rộng mặt tiền, chiều sâu tối thiểu của thửa đất ở:

    a.1) Đất ở tại đô thị: Diện tích tối thiểu của thửa đất sau khi tách thửa là 30 m²; có bề rộng mặt tiền, chiều sâu 3m”.

Theo đo đạc thực tế, Thửa đất 645, tờ bản đồ số 17 có diện tích còn lại là 400,8m2; kỷ phần thừa kế bà X được hưởng khoảng hơn 100m2 chưa kể những kỷ phần mà những người thừa kế khác tặng cho lại cho. Do đó, đối chiếu với quy định nêu trên thì phần đất là di sản thừa kế mà bà X được hưởng đủ điều kiện để tách ra thành một thửa đất mới.

Quan điểm hướng dẫn chỉ đạo về đường lối giải quyết vụ án và thực tiễn xét xử đều theo hướng phân chia cho bà X được hưởng thừa kế bằng hiện vật là quyền sử dụng đất. Theo nội dung hướng dẫn tại mục 1.2.2. về xác định di sản thừa kế, giá trị di sản, hiện trạng, quá trình sử dụng, quản lý di sản tại Công văn số 24/HD-VKSTC của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ngày ngày 12 tháng 5 năm 2021:

“Thực tiễn xét xử cho thấy, nhiều vụ án chia di sản thừa kế bị hủy nhiều lần vì khi giải quyết, Toà án không xem xét kỹ nguồn gốc, sự chuyển dịch theo thời gian, những biến động của tài sản là di sản trong quá trình thực hiện các chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ, thậm chí không xem xét đến những tài sản (không phải là di sản) đang tồn tại, hiện hữu trong khối tài sản có tranh chấp hoặc phân chia di sản không phù hợp với thực tế và nhu cầu của đương sự như: Tài sản có thể chia bằng hiện vật nhưng chỉ giao cho một bên sở hữu, sử dụng khi người này không có khả năng chi trả giá trị cho các thừa kế khác trong khi có đương sự khác cũng có yêu cầu được phân chia hiện vật hoặc chia di sản cho các thừa kế bằng nhau nhưng giá trị sử dụng của di sản là khác nhau. Trường hợp di sản thừa kế là vốn góp trong doanh nghiệp, cổ phiếu, trái phiếu, quyền sở hữu trí tuệ, cần phải nghiên cứu các quy định của pháp luật về các nội dung này để xem xét xác định giá trị của di sản thừa kế và cách thức phân chia cho phù hợp.”

Từ các cơ sở trên, bà Giang Thị X hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền phân chia di sản là Thửa đất số 645 do cụ H cụ T để lại.


Trên đây là tư vấn của EQUITY LAW FIRM về VỤ ÁN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ

LIÊN HỆ LUẬT SƯ TƯ VẤN TRỰC TIẾP: 078 569 0000 –  0969 099 300

Phụ trách nội dungThS. LS. Phan Công Tiến – Luật sư điều hành Equity Law Firm

Địa chỉTầng 5, Tòa nhà Bình Vượng Tower, số 200 đường Quang Trung, phường Hà Đông, thành phố Hà Nội.

Email: tienpc@equitylaw.vn – luatsucongtien@gmail.com

Fanpage: https://www.facebook.com/equitylaw.vn

Zalo liên hệ Luật sưzalo.me/3357157996900972250

Quét mã QR Zalo Luật sư:


Bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan của Equity Law Firm:

VỤ ÁN: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

VỤ ÁN NHÂN VIÊN Y TẾ SAI SÓT VỀ NGHIỆP VỤ, THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY CHẾT NGƯỜI

BỒI THƯỜNG KHẮC PHỤC HẬU QUẢ DO XÂY DỰNG TRÁI PHÉP, SỬ DỤNG ĐẤT SAI MỤC ĐÍCH

VỤ ÁN TRANH CHẤP ĐẤT KHAI HOAN